|
|
Con đường phía trước |
|
|
Lời tựa | Chương 1 | Chương 2 | Chương 3 | Chương 4 | Chương 5 | Chương 6 | Chương 7 | Chương 8 | Chương 9 | Chương 10 | Chương 11 | Lời kết | ||
| Chương 2. Giai Đoạn Mở Đầu Của Thời Đại Thông Tin | ||
|
Lần đầu tiên khi tôi nghe nhóm từ " thời đại thông tin", tôi cảm thấy như bị cụt hứng. Tôi biết về thời đại đồ sắt và thời đại đồ đồng, đó là những giai đoạn lịch sử được đặt tên cho những vật liệu mới mà những con người dùng để làm ra công cụ và vũ khí. Đó là những thời đại đặc biệt. Sau đó, tôi đọc sách, và những sách đó tiên đoán rằng rồi đây các nước sẽ chiến đấu chống nhau để giành quyền kiểm soát thông tin, chứ không phải là tài nguyên thiên nhiên. Điều đó nghe ra cũng khá hấp dẫn, nhưng như vậy họ địnhnghĩa thông tin là ǵ? Việc có một số cho rằng thông tin sẽ quyết định tương lai khiến tôi nhớ lại một cảnh nổi tiếng trong phim người tốt nghiệp (the Graduate) hồi năm 1967. Có một thư gia níu áo Benjamin, người sinh viên tốt nghiệp do Dustin Hoffman thủ vai, và khuyên Bengjamin một lời khuyên về nghề nghiệp không có vẻ ǵ là mời mọc nhưng chỉ có hai từ "chất dẻo". Tôi tự hỏi cảnh đó được viết vài mươi năm sau th́ lời khuyên của thương gia kia sẽ có thể là : Hai từ thôi, Benjamin, "thông tin". Tôi tưởng tượng ra những cuộc đàm thoại vô nghĩa về tương lai trong một pḥng lạnh trong một cơ quan:"Anh có bao nhiêu thông tin?","Thuỵ sĩ là một đất nước vĩ đại v́ tất cả thông tin đều nằm ở nước đó","tôi nghe bảng giá thông tin đang tăng!" Nó vô nghĩa bởi v́ thông tin không phải là vật hữu h́nh hay vật có thể cân, đo, đong, đếm được như các vật liệu trong các thời đại trước, những thông tin ngày càng trở lên quan trọng đối với chúng ta. Cuộc cách mạng thông tin chỉ mới bắt đầu. Giá cả của thông tin rồi sẽ giảm nhanh chóng như của các máy điện toán trước đây. Khi giá cả giảm xuống đến mức chấp nhận và được kết hợp với những tiến bộ khác của kỹ thuật th́ "xa lộ thông tin"không c̣n là nhóm từ của những viên chức sính dùng từ ngữ và của những chính trị gia sôi nổi nữa.Nó sẽ trở thành một thứ mang tính thực tế và sâu rộng như là "điện" vậy. Để hiểu được v́ sao thông tin lại trở thành một trung tâm điểm như thế, điều quan trọng là phải biết nền kỹ thuật đang thay đổi cách chúng ta xử lư thông tin như thế nào. Tôi xin dành phần lớn chương này để giải thích vấn đề đă nêu trên đây. Phần c̣n lại dành để cung cấp cho những bạn đọc chưa có dịp làm quen với những nguyên lư và lịch sử của máy điện toán, một số thông tin đủ để hiểu phần c̣n lại của quyển sách. Nếu bạn đă hiểu máy điện toán dạng số hoạt động như thế nào rồi th́ chắc bạn sẽ hiểu được phần c̣n lại, vậy, bạn sẽ yên tâm xem tiếp phần c̣n lại. Điều khác nhau cơ bản nhất chúng ta sẽ thấy trong thông tin tương lai là hầu như tất cả mọi thứ đều ở dạng số. Toàn bộ sách in của các thư viện đă được chụp và lưu trữ như là những dữ Kiện điện tử trên đĩa và CD-ROM. Nhật báo và tạp chí thường được sắp chữ ở dạng điện tử và được in ra giấy là để tiện việc phân phối. Thông tin điện tử được lưu trữ vĩnh viễn- hoặc bao lâu tuỳ theo ư muốn-trong cơ sở dữ liệu của máy điện toán; những ngân hàng dữ liệu khổng lồ của báo chí có thể tiếp cận được thông tin các dịch vụ trực tuyến. Phim, ảnh,và phim video, tất cả đều có thể chuyển đổi sang thông tin dạng số. Mỗi một năm qua, các phương pháp mới được sáng tạo để lượng tử hoá thông tin và để lọc chúng thành triệu triệu những nhóm nguyên tử dữ kiện. Khi thông tin dạng số đă được lưu trữ, bất cứ ai cũng có thể tiếp cận được, và một máy điện toán cá nhân có thể ngay lập tức gọi, so sánh và tái tạo lại được. Đặc điểm thời kỳ này của lịch sử và con người sáng tạo những phương sách hoàn toàn mới, trong đó thông tin có thể được trao đổi và vận dụng, và tốc độ ngày một tăng, giúp chúng ta xử lư chúng. Khả năng của máy điện toán với giá rẻ, tốc độ xử lư và truyền dữ kiện số cao, sẽ thay đổi các phương tiện liên lạc thông thường trong gia đ́nh và cơ quan. Ư nghĩ về việc sử dụng một công cụ để sử lư số không phải là mới. Bàn tính đă được sử dụng ở Châu Á cách đây gần 5.000 năm. Vào năm 1642, khi một nhà khoa học pháp, Balise Pascal, mới 19 tuổi, đă phát minh ra một máy tính cơ học. Đó là một công cụ để đếm. ba mươi năm sau, nhà toán học người Đức, Gottfried Von Leibniz,đă cải tiến chiếc máy của Pascal. Chiếc máy tính "Stepped Reckoner" của ông có thể thực hiện các phép tính nhân, chia và căn bậc hai. Các máy tính cơ học đáng tin cậy, hoạt động bằng cách quay tṛn mặt số đang cần gạt, các thế hệ sau của máy tính Stepped Reckoner, đều là chỗ dựa chủ yếu của các hăng buôn cho đến khi máy tính điện tử ra đời và thay thế chúng. Cách đây một thế kỷ rưỡi, một nhà toán học người Anh đă nghĩ về khả năng của máy điện toán, và suy nghĩ của ông đă làm ông trở lên nổi tiếng ngay trong thời đại của ông. Charles Babge, một giáo sư toán học tại trường đại học Cambridge, đă tưởng tượng khả năng của một công cụ cơ học có thể thực hiện được một chuỗi các phép tính quan trọng.Ngay từ thập liên 80, ông đă nảy sinh ư nghĩ rằng thông tin có thể được sử lư thông qua một chiếc máy nếu chiếc máy đó được chuyển thành ra dạng số trước. Máy chạy bằng hơi nước mà Babage mường tượng ra có thể sử dụng các chốt, bánh xe răng cưa, xy lanh, và các bộ phận máy khác, là chiếc máy của thời đại công nghiệp mới. Babage tin rằng "máy phân tích" của ông cũng có thể dùng để loại bỏ các công việc nặng nhọc và thiếu chính xác. Chiếc máy phân tích của ông lẽ ra là một máy cơ học, nhưng ông đă h́nh dung thấy nó có thể tuân theo sự thay đổi của các lệnh, và do đó, nó có thể phục vụ cho những chúc năng khác nữa. Nó chính là đặc điểm của phần mềm. Nếu có một bộ quy tắc toàn diện, người ta có thể "ra lệnh" cho máy thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt. Babage nhận thức được rằng để tạo được các lệnh đó, ông cần có một loại ngôn ngữ hoàn toàn mới, và ông đă tạo được một loại ngôn ngữ dùng số,chữ, mũi tên và các dấu hiệu khác. Ngôn ngữ đă được tạo ra đă giúp cho Babbage "lập tŕnh" cho chiếc máy phân tích của ông với một dăy dài các lệnh có điều kiện, các lệnh đó cho phép máy bổ xung các hoạt động của nó để đáp ứng mọi t́nh h́nh biến đổi. Ông là người đầu tiên nhận ra rằng một chiếc máy đơn có thể phục vụ một số các mục đích khác nhau. Trong thế kỷ tiếp theo, các nhà toán học,theo suy nghĩ của Babbage, đă đề ra những nét đại cương, và cuối cùng, và giữa thập niên 40, một máy điện toán điện tử, dựa trên nguyên tắc của máy phân tích đă ra đời. Thật khó có thể t́m ra được các hậu duệ của máy đó trong số máy điện toán hiện đại hiện nay, bởi phần lớn các suy nghĩ và công việc đều thực hiện tại Mỹ và Anh trong thế chiến thứ II dưới cái cớ là bí mật chiến tranh. Ba người có công lớn là Alan Turing, Claude Shannon,và John Von Neumann. Khoảng giữa thập liên 30, Alan Turing, giống như Babbage, một nhà toán học bảng đầu cảu Anh được đào tạo tại trường Cambridge, đề nghị sản xuất một loại máy và hiện nay gọi là máy Turing. Đó là một máy tính đa năng hoàn chỉnh, người ta có thể ra lệnh cho nó và xử lư bất cứ loại thông tin nào. Vào khoảng cuối thập liên 30, khi Claude Shannon c̣n là một sinh viên, ông đă chứng minh rằng một chiếc máy thực hiện được những lệnh hợp lư có thể sử lư được thông tin. Tầm nh́n của ông- cũng là đề tài cho bản luận án Master của ông - là các mạch của máy điện toán - khi đóng là đúng và khi mở là sai-có thể thực hiện các thao tác hợp lư, sử dụng số 1 để biểu thị "đúng" và số 0 biểu thị "sai". Đó là hệ thống nhị phân. Nó là một bộ mă. Hệ thống nhị phân là bộ chữ cái của máy điện toán điện tử, là cơ sở của ngôn ngữ mà tất cả thông tin được dịch ra, được lưu trữ và sử dụng trong máy điện toán. Nó khá đơn giản nhưng lại rất quan trọng để hiểu được cách mà máy điện toán hoạt động như thế nào, và chính v́ vậy nó đáng để chúng ta dành th́ giờ t́m hiểu sâu hơn về nó. Hăy tưởng tượng rằng bạn có một căn pḥng và bạn muốn ánh trăng của nó phải sáng bằng một bóng điện 250 watt, mà bạn muốn ánh sáng đó có thể điều chỉnh được từ 0 watt (nghĩa là tối hoàn toàn) cho đến hết cường độ của bóng đèn 250 watt. Có một cách để thực hiện việc đó là dùng một nút vặn xoay tṛn gắn vào bóng điện 250 watt kia. Để đạt được độ tối nhất, bạn hăy vặn nút vặn ngược kim đồng hồ tới số 0. Để đạt được độ sáng nhất, bạn hăy vặn theo chiều kim đồng hồ tới con số 250.Để có một nửa độ sáng, hăy vặn nút vặn tới khoảng giữa chừng. Hệ thống này dễ sử dụng nhưng có nhiều hạn chế. Nếu nút vặn xoay quá điểm bắt đầu chút xíu-chẳng hạn bạn muốn có ánh sáng hơi mờ phục vụ cho bữa cơm thân mật-bạn chỉ có thể đoán chừng được độ sáng đó mà thôi. Thực tế bạn không biết được cường độ ánh sáng đó là bao nhiêu watt, hoặc trường hợp bạn nhờ ai đó vặn một cách chính xác được. Thông tin của bạn chỉ là thông tin xấp xỉ gần đúng, và đă như vậy th́ thật khó có thể lưu trữ hay tái lập lại đúng như cũ được. Vậy, chẳng hạn vào tuần sau, bạn muốn vặn lại đúng cường độ ánh sáng cũ th́ bạn phải làm như thế nào? bạn có thể đánh dấu trên nút vặn để bạn biết nấc nào bạn cần vặn tới, nhưng như vậy cũng khó mà chính xác được, và điều ǵ sẽ xảy ra nếu bạn muốn có cường độ ánh sáng khác hơn? và liệu bạn phải làm như thế nào nếu bạn của bạn muốn có ánh sáng đúng như lần trước? bạn có thể nói "vặn ngược chiều kim đồng hồ khoảng một phần năm", hay "vặn cho mũi tên của nút vặn chỉ hai giờ",nhưng bạn của bạn chỉ có thể vặn được một cường độ ánh sáng xấp xỉ mà thôi. Và điều ǵ sẽ xảy ra nếu bạn của bạn bảo một người khác làm lại như vậy? mỗi một lần thông tin được truyền đạt là mỗi lần sự chính xác bị giảm đi. Trên đây là một ví dụ về thông tin được lưu trữ dưới dạng "tương tự". Nút vặn đến điểm sáng mờ tạo được sự tương tự về cường độ sáng của bóng đèn. Nếu nút được vặn nửa ṿng, nghĩ rằng bạn có cường độ ánh sáng là phân nửa. Khi bạn tính hoặc diễn đạt nút vặn bao xa, tức là bạn đă thực hiện lưu trữ thông tin dưới dạng tương tự (tức nút vặn) chứ không phải dưới dạng ánh sáng.thông tin ở dạng tương tự, có thể tập hợp, lưu trữ vd tái tạo lại, nhưng nó thường không chính xác - và c̣n có nguy cơ càng trở lên không chính xác sau mỗi lần được truyền đi. Bây giờ chúng ta hăy nghiên cứu một phương pháp hoàn toàn khác để diễn tả cường độ ánh sáng trong pḥng, tức lưu trữ và truyền thông tin ở dạng số bằng cách sử dụng các số 0 và 1.Những số này gọi là những số nhị phân-những con số đó bao gồm toàn bộ các số 0 và 1. Mỗi một số 0 hay số 1 được gọi là bit. Một khi thông tin đă được chuyển đổi, nó được đưa vào và lưu trữ trong máy điện toán như là một chuỗi dài các bit. tất cả các số đó đều có nghĩa là "thông tin dạng số". Thay v́ chúng ta chỉ có duy nhất một bóng điện 250 watt, hăy tưởng tượng rằng chúng ta có 8 bóng, bóng sau có cường độ gấp đôi bóng trước, từ 1 cho đến 128. Mỗi bóng đều được gắn riêng một công tắc, và bóng có cường độ thấp nhất được xếp bên phải. Cách bố trí các bóng điện được tŕnh bày như dưới đây:
Trường hợp bạn muốn dùng ánh sáng lư tưởng cho bữa cơm là 137 watt, bạn chỉ cần bật ba công tắc: 128 watt,8 wattt và 1 watt. Hệ thống này giúp chúng ta dễ dàng ghi lại
một cường độ ánh sáng chính xác cho lần sử dụng sau hoặc
thuyền đạt cho người khác nếu người đó cũng có một hệ thống
như vậy. Bởi v́ phương pháp ghi lại thông tin bằng hệ nhị phân
này khá phổ biến - bóng có cường độ thấp bên tay phải,bóng cao
hơn bên trái, và luôn luôn gấp đôi - bạn không cần thiết
phải ghi lại trị số của mỗi bóng. Bạn chỉ cần dùng loại công
tắc có ghi: bật, tắt, bật, tắt. Với loại thông tin như vậy,
bất cứ người bạn nào của bạn cũng có thể vặn lại một cách
chính xác về cường độ ánh sáng 137 watt trong pḥng
bạn. Nói gọn lại, bạn có thể ghi mỗi lần "tắt" và 0, và mỗi lần bật là 1. Điều đó có nghĩa thay v́ phải viết bật, tắt, bật, tắt, có nghĩa là bật công tắc thứ nhất, thứ tư, thứ tám của tám công tắc, c̣n các công tắc c̣n lại là không bật, bạn viết lại thông tin đó dưới dạng 1,0,0,0,1,0,0,1,hoặc 10001001, một số nhị nguyên. Trong trường hợp này nó là 137.Gọi bạn của bạn và nói:"tôi đă có được ánh sáng thật hoàn hảo! Đó là 10001001. Bạn hăy thử xem".bạn của bạn cũng sẽ có được nguồn ánh sáng chính xác như vậy bằng cách bật công tắc 1 và các công tắc 0. Phương thức này h́nh như là cách khá phức tạp để mô tả cường độ của nguồn ánh sáng, nhưng nó là một ví dụ về lư thuyết của biểu thức nhị phân, nền tảng của tất cả máy điện toán hiện đại. Biểu thức nhị phân giúp cho nhúng ta có khả năng tận dụng lợi thế của mạch điện tử để sản xuất máy tính bỏ túi. Việc này đă sảy ra trong thế chiến thứ hai khi một nhóm các nhà toán học, do J. Presper Eckert và John Mauchly, giáo sư tại khoa cơ khí điện của trường đại học Pennsylvania dẫn đầu, bắt đầu phát triển một máy tính điện tử, chiếc ENIAC. Mục đích của nó là đẩy nhanh tốc độ tính toán các bảng tính của pháo binh. ENIAC giống như một máy tính điện tử hơn là một máy điện toán, nhưng thay v́ sử dụng số nhị phân với các bộ công tắc bật, tắt trên bánh xe như các máy tính cơ học thường áp dụng, ông ta sử dụng "công tắc " đèn chân không. Quân đội phân công lính đẩy những cỗ xe chuyên dùng để chở hàng tạp hoá trở đầy các cỗ máy khổng lồ và đèn chân không quanh trận địa. Mỗi khi một đèn chân không đă cháy, máy ENIAC lại phải ngưng, lính tráng lao tới để thay thế đèn đă cháy. Người ta giải thích, có lẽ là không xác đáng lắm, lư do v́ sao lại phải thay thế các đèn thường xuyên như vậy là do nhiệt lượng và ánh sáng của nó thu hút đàn bướm đêm và chúng có thể bay cả vào cỗ máy khổng lồ kia và làm cho mạch bị đứt. Nếu điều đó đúng, nó giúp giải thích ư nghĩa mới của từ "con bọ -bug" được dùng để chỉ những xung tạp nhiễu lây lan trong phần cứng hay phần mềm của máy điện toán. Khi tất cả đèn chân không đă cháy hết, các kỹ sư lại phải định vị máy ENIAC để giải quyết một vấn đề bằng cách cắm lại những 6.000 dây cáp bằng tay. Để làm cho máy thực hiện một chức năng khác, mỗi lần như vậy, nhóm kỹ sư lại phải định h́nh trở lại hệ thống dây cáp. John von Neumann, một người Mỹ gốc Hungary thật lỗi lạc, có công đầu trong việc nghĩ ra cách giải quyết vấn đề này. Ông sáng tạo ra hệ biến hoá mà hiện nay tất cả máy điện toán dạng số vẫn c̣n áp dụng. "kiến trúc Von Neumann", như ngày nay vẫn gọi, dựa trên giuyên lư ông đă tạo ra năm 1945, kể cả nguyên lư mà máy điện toán có thể tránh việc thay cáp bằng cách lưu trữ lệnh trong bộ nhớ của máy. Ngay sau khi ư nghĩ đó được biến thành hiện thực, máy điện toán hiện đại ra đời. Ngày nay, bộ năo của hầu hết máy điện toán
đều là hậu duệ của bộ vi xử lư mà Paul Allen và tôi đă bị
choáng váng từ những năm 70,và máy điện toán cá nhân thường
được đánh giá theo số lượng bit thông tin (giống như một công
tắc của hệ thống đèn)và một bộ vi sử lư có thể sử lư được
trong một lần, hoặc bao nhiêu byte (một chùm tám bit)một bộ
nhớ hoặc một bộ nhớ dựa đĩa mà chúng có. Máy ENIAC nặng 30 tấn
và chiếm hết một căn pḥng rộng. Bên trong máy, các xung tích
chạy trong 1.500 rơle cơ điện và qua 17.000 đèn chân không.
Khi khởi động máy, nó đă tiêu thụ 150.000 Vào đầu thập liên 60, transistor đă thay thế đèn chân không trong ngành điện tử dân dụng. điều đó xảy ra khoảng hơn 10 năm sau vụ phát hiện tại Bell Labs rằng hạt silicon màu bạc tí hon có thể thực hiện các công việc giống như đèn chân không. Các transistor, giống như đèn chân không, cũng hoạt động như các công tắc điện, nhưng chúng chỉ cần một lượng năng lượng rất nhỏ để hoạt động, và nhờ vậy toả rất ít nhiệt và chiếm rất ít chỗ. Bộ transistor đa mạch có thể kết hợp vào trong một chip đơn để tạo ra một mạch tổ hợp. Những chip của máy điện toán chúng ta sử dụng hiện nay là những mạch tổ hợp chứa một lượng tương đương hàng triệu transistor được nén lại thành một khối silicon và kích thước nhỏ hơn một inch vuông. Trong một bài báo đăng trên Scientific American năm 1977, Bob Noyce một trong những người sáng lập ra hăng Intel, đă chỉ ra sự giống nhau giữa bộ vi xử lư trị giá 300 Mỹ cương với máy ENIAC, một chiếc máy khổng lồ bị mối mọt phá hoại ra đời từ buổi b́nh minh của thời đại máy điện toán. Bộ vi sử kư nhỏ xíu chẳng những mạnh hơn,mà như Bob Noyce nhận xét, "nó nhanh hơn gấp hai mươi lần, có bộ nhớ lớn hơn, đáng tin cậy gấp ngàn lần, tiêu thụ một nguồn năng lượng chỉ bằng một bóng đèn chứ không phải bằng một đầu máy xe lửa, chỉ chiếm 1/30.000 thể tích và giá thành thấp hơn 1/10.000 lần. Bạn có thể đặt mua qua đường bưu điện hoặc tại các cửa hàng nơi bạn ở. Tất nhiên, bộ vi xử lư của năm 1977 so với hiện nay chỉ là thứ đồ chơi của trẻ con. Và, thực ra,có nhiều loại đồ chơi rẻ tiền có chứa các chip của máy điện toán c̣n mạnh hơn nhiều so với các chip của thập liên 70, những con bọ điện tử đă mở đầu cho cuộc cách mạng máy vi tính. Nhưng tất cả các máy điện toán hiện nay, dù kích thước và công suất có khác nhau, chúng đều xử lư thông tin và trữ liệu bằng các con số nhị phân. Số nhị phân được sử dụng để lưu trữ văn bản trong máy điện toán cá nhân, nhạc trong đĩa nhạc, tiền trong hệ thống máy giữ tiền của giân hàng. Trước khi thông tin đi vào máy điện toán, nó phải được đổi ra thành những số nhị phân. Rồi máy móc, các thiết bị dạng số, lại chuyển thông tin về dạng nguyên thuỷ của nó. Bạn có thể h́nh dung mỗi một thiết bị đó là các dây chuyển mạch, khống chế các ḍng điện tử. Nhưng các mạch liên quan, thường được làm bằng silicon, hết sức nhỏ và chỉ có thể phóng được bằng các nguồn điện cực nhanh - để tạo lại văn bản trên màn h́nh của máy điện toán cá nhân, nhạc và đĩa CD, và các lệnh từ các máy đổi tiền để phân phối. Những công tắc đèn chẳng hạn, minh hoạ cách các số có thể đại diện dưới dạng nhị phân. Sau đây ld cách máy thể hiện văn bản dưới dạng nhị phân. Theo quy ước, con số 65 đại diện cho chữ A hoa, con số 66 đại diện cho chữ B hoa, vv... Trên máy điện toán mỗi một số trên được biểu thị dưới dạng mă nhị phân: chữ A hoa của con số 65 sẽ trở thành 01000001.Chữ B hoa chỉ con số 66 sẽ trở thành 01000010. Một khoảng trống được đại diện bởi con số 32, hoặc 00100000. V́ vậy câu "Socrates is a man" sẽ trở thành
chuỗi 136 các số 1và 0: Qua ví dụ trên chúng ta có thể hiểu được một cách dễ dàng cách một ḍng văn bản trở thành một dăy số nhị phân như thế nào. Để hiểu được cách các loại thông tin khác được số hoá ra sao, chúng ta hăy xét một ví dụ khác của dạng thông tin tương tự. Một đĩa hát cổ điển làm bằng nhựa vinyl là một đại diện tương tự của giao động âm thanh. Nó lưu trữ thông tin âm thanh trong những kư hiệu vi mô chạy dọc theo các đường rănh theo h́nh xoắn ốc của đĩa hát. Nếu bản nhạc có một đoạn âm thanh lớn th́ các kư hiệu được khắc sâu vào đường rănh, và nếu có một nốt nhạc có âm thanh cao th́ các kư hiệu được nén chặt lại với nhau. Các kư hiệu trong đường rănh là dạng tương tự của âm thanh nguyên thuỷ - các sóng âm được micro thu lại. Khi chiếc kim máy hát chạy trong các đường rănh, nó giao động trong sự cộng hưởng với những kư hiệu li ti kia. Sự giao động đó, vẫn c̣n ở dạng tương tự của âm thanh ban đầu, được khuyếch đại lên và truyền ra hệ thống loa phát ra bản nhạc. Giống như bất cứ một phương tiện tự dùng để
lưu trữ thông tin, đĩa hát có những nhược điểm của nó. Khi mặt
đĩa hát bị trầy sước, bị bụi bám, hoặc bị hằn dấu tay, những
vết này có thể làm cho kim giao động không chính xác, gây
tiếng ồn khi nghe nhạc. Nếu đĩa hát quay không đúng tốc độ th́
âm thanh của bản nhạc sẽ không chính xác. Mỗi lần máy chạy,
kim của máy hát bào ṃn các kư hiệu li ti trong dănh làm cho
việc tái tạo âm thanh không hoàn hảo của đĩa hát cũng sẽ
chuyển sang băng cát-xét th́ tất cả những âm thanh không hoàn
hảo của đĩa hát sẽ chuyển sang băng một cách Trên đĩa Compact, nhạc được lưu trữ dưới dạng một chuỗi số nhị phân, mỗi một bit (giống như một công tắc) được đại diện bằng một pit vi mô trên bề mặt của đĩa. Đĩa CD hiện nay chứa khoảng 5 tỷ pit. Tia la-de phản chiếu trong đĩa CD- một dạng tương tự - lần lượt đọc các pit để xác định vị trí 1 hoặc 0 nó phải chuyển tới, và sau đó tập hợp lại và chuyển thông tin về dạng bản nhạc ban đầu bằng cách tạo ra các dấu hiệu điện tử định trước và chúng sẽ được hệ thống loa chuyển thành sóng âm. Mỗi lần cho đĩa hoạt động, âm thanh được tạo ra hoàn toàn chính xác như nhau. Ngày nay, việc chuyển mọi thế thành dạng số hoá rất thuận tiện, nhưng việc h́nh thành số lượng bit diễn ra rất nhanh. Khi nhập quá nhiều lượng âm thông tin có thể khiến cho bộ nhớ của máy bị quá tải hoặc tốn khá nhiều thời gian khi muốn truyền từ máy này sang máy khác. V́ thế cho nên, khả năng của một máy điện toán để nén dữ liệu số, lưu trữ hoặc phát ra, rồi chuyển dữ kiện về dạng ban đầu là điều rất quan trọng và trong tương lai sẽ có nhiều loại máy như thế ra đời. Dưới đây, chúng tôi xin tŕnh bày v́ sao máy điện toán hoàn toàn được các chiến tích đó. Chúng ta phải quay trở về thời Ông Claude Shannon. Một nhà toán học, vào thập liên 30, đă nghĩ ra được phương pháp tŕnh bày thông tin dưới dạng nhị phân. Trong cuộc chiến tranh thế giới thế hai, ông bắt đầu nghiên cứu cách tŕnh bày toán học về thông tin và h́nh thành một lĩnh vực mà sau này người ta gọi là lư thuyết thông tin. Shannon định nghĩa thông tin là sự giảm bớt tính không chắc chắn. Theo định nghĩa đó th́ giả dụ bạn đă biết đó là ngày thứ bảy, và có ai đó bảo bạn rằng là ngày thứ bảy, như vậy bạn không nhận được thông tin nào cả. Nhưng, nếu bạn không biết ngày đó là ngày ǵ, và có ai đó bảo bạn rằng đó là ngày thứ bảy, như vậy bạn có nhận được thông tin, bởi v́ sự không chắc chắn của bạn sẽ được giảm đi, Lư thuyết thông tin của Shannon, trên thực tế, đă dẫn tới đột phá khác. Một trong những đột phá đó là nén dữ kiện. Sự nén dữ kiện đó rất quan trọng đối với cả hai lĩnh vực điện toán lẫn thông tin liên lạc. Những ǵ ông nói rất rơ ràng: Những phần dữ liệu nào không cung cấp được thông tin duy nhất đều là thừa và có thể loại bỏ. Các nhà báo chuyên viết mục tóm tin thường loại bỏ những từ vô nghĩa, những người gửi điện tín, viết quảng cáo đều như vậy. Những nguyên lư đó của Shannon đang được áp dụng trong lĩnh vực nén âm thanh và h́nh ảnh. Người ta có thể nén thông tin từ 27 triệu bit xuống 1 triệu bit để truyền đi như thế vẫn giữ được ư nghĩa và người xem vẫn thích thú. Tuy nhiên, trong kỹ thuật nén c̣n đang có những hạn chế và trong tương lai không xa, chúng ta cũng sẽ chuyển một số lượng bit từ nơi này sang nơi khác. Các bit sẽ di chuyển theo dây cáp đồng, trong không khí, trong cấu trúc của xa lộ thông tin, mà phần lớn sẽ là cáp quang. Cáp quang là loại cáp được làm bằng thuỷ tinh hay chất dẻo hết sức trơn làng và trong suốt đến mức bạn có thể nh́n thấy một đèn cầy đang cháy ở phía bên kia một bức tường dày 70 dặm làm bằng loại cáp quang đó. Các tín hiệu nhị phân, dưới dạng ánh sáng đă được biến điệu, lan truyền qua các khoảng cách rất dài bằng cáp quang. Một tín hiệu di chuyển trong cáp quang không nhanh hơn trong dây cáp đồng; cả hai cùng di chuyển với tốc độ ánh sáng. Nhưng lợi thế vô cùng to lớn của cáp quang so với cáp đồng là cả dải thông mà nó mang theo. Dải thông là thước đo số lượng bit di chuyển trong mạch trong thời gian 1 giây. Nó thực hiện giống như một xa lộ.Một đường lộ liên tỉnh có tám làn xe dĩ nhiên là xe cộ lưu thông dễ dàng hơn một con đường nhỏ hẹp. Dải thông càng lớn th́ xe cộ càng nhiều, nhờ vậy mà nhiều xe, hoặc nhiều bit thông tin, có thể di chuyển trong một giây. Những cáp có dải thông giới hạn, dùng để chuyển tải văn bản và giọng nói, gọi là mạch băng hẹp. Những cáp có nhiều khả năng hơn, dùng để chuyển tải h́nh ảnh và phim hoạt h́nh giới hạn, gọi là "băng trung". Những cáp có dải thông cao, dùng để chuyển tải tín hiệu nghe nh́n, được gọi là dải băng rộng. Xa lộ thông tin sẽ sử dụng kỹ thuật nén, nhưng giai đoạn đầu vẫn c̣n phải sử dụng chủ yếu là giải thông. Một trong những lư do chính khiến chúng ta chưa có sẵn một xa lộ hoạt động được là ở chỗ trong mạng lưới thông tin liên lạc hiện nay chưa có đủ dải thông cho tất cả các ứng dụng mới. Và điều đó cũng chưa thể thực hiện được cho đến khi nào cáp quang được sản xuất tại những vùng hiện nay chưa có. Cáp quang là một ví dụ về sự tiến bộ của công nghệ, nó vượt ra xa những điều mà Babbage hoặc thậm chí cả Eckert và Mauchly có thể tiên đoán được. Về tốc độ cũng đạt được những tiến bộ vượt bậc tương tự mà trong đó hiệu suất và khả năng của các chip đă thể hiện. Năm 1965, Gordon Moore, sau này là đồng sáng lập viên của hăng Intel, đă cùng với Bob Noyce, tiên đoán rằng khả năng của một chip điện toán sẽ tăng gấp đôi hàng năm. Ông tiên đoán điều đó sau khi đă dành ra ba năm trời để nghiên cứu tỷ lệ giữa giá và hiệu suất làm việc của các chip điện toán. Thực ra, Moore không tin là tốc độ cải tiến đó có thể tồn tại lâu dài được. Nhưng rồi mười năm sau, điều ông tiên đoán xảy ra đúng như vậy, và ông lại tiên đoán tiếp rằng khả năng đó tăng gấp đôi trong từng hai năm một. Vi xử lư của hăng Intel có số Transistor tăng gấp đôi sau 18 tháng theo quy luật của Moore. Chưa có kinh nghiệm nào trong cuộc sống hàng ngày giúp chúng ta hiểu được một con số mà ta có thể giấp đôi nó lên vô vàn lần - sự cải tiến theo cấp số mũ. Có một câu chuyện ngụ ngôn có thể giúp chúng ta hiểu vấn đề này. Vị vua Shirham của ấn độ tỏ ra hết sức hài ḷng khi một trong những quốc vụ khanh của ông đă phát minh ra tṛ chơi cờ và hỏi rằng người đó muốn được thưởng điều ǵ.Quốc vụ khanh đó trả lời: Kính thưa bệ hạ, khanh chỉ giám xin Bệ hạ ban cho khanh một hạt lúa ḿ cho ô vuông thứ nhất của bàn cờ hai hạt cho ô vuông thứ nh́, bốn hạt cho ô vuông thứ ba , và cứ tiếp tuồng cổ tăng gấp đôi cho từng ô trong tất cả 64 ô vuông của bàn cờ. Nhà vua hết sức cảm động về lời thỉnh cầu khiêm tốn nọ, và lệnh cho mang ra một bao lúa ḿ. Nhà vua lệnh cho viên quan quân lương đếm to lên tổng số hạt đặt vào mỗi ô vuông của bàn cờ. Thế là viên quan kia đặt vào trong ô thứ nhất của hàng thứ nhất 1 hạt lúa ḿ. Vào ô vuông thứ hai 2 hạt, ô vuông thứ ba 4 hạt, rồi 8, 12,32,64,128 hạt. Đến ô vuông thứ tám của hàng thứ nhất, viên quan kia đọc to lên tổng số hạt đă đặt là 255. Cho đến lúc các vị quan chưa tỏ ra có ǵ lo lắng. Có thể sẽ nhiều hơn một ít so với số lượng ông nghĩ,nhưng chưa có ǵ đáng ngạc nhiên xảy ra. Giả sử phải mất một giây để. đếm một hạt, th́ đến lúc đó mới chỉ tốn có khoảng bốn phút. Nhưng nếu đếm một hàng tốn bốn phút, th́ thử đoán xem mất bao nhiêu thời gian mới đếm hết số lượng hạt trong tất cả 64 ô vuông kia. Bốn giờ? bốn ngày? hay bốn năm? Đến lúc đếm song hàng thứ hai viên quan kia đă phải mất khoảng 18 tiếng đồng hồ để đếm 65.535 hạt. lúc đếm song hàng thứ ba của tổng số tám hàng, viên quan nọ đă mất 194 ngày để đếm 16,8 triệu hạt trong 24 ô vuông. Và c̣n lại 40 ô vuông chưa đếm. Đến lúc này, chúng ta có thể đoán trắc rằng vị vua kia phải từ bỏ lời hứa. Đến ô vuông cuối cùng, nếu đếm, sẽ phải tốn 18.446.744.073.709.551.615 hạt và thời gian phải đếm lên tới 584 tỷ năm. Dự đoán hiện nay về tuổi của quả đất ở khoảng 4,5 tỷ năm. Theo đa số sách viết về chuyện cổ tích th́ vua Shirham, sau đó nhận ra ḿnh bị mắc lừa và đă ra lệnh chém đầu vị quốc vụ khanh kia. Sự phát triển theo cấp số nhân, thậm chí khi đă được giải thích, nghe vẫn có vẻ như một tṛ đùa. Quy luật Moore chắc chắn sẽ là đúng trong khoảng 20 năm tới. Và nếu như vậy th́ một phép tính hiện nay mất khoảng một ngày để tính, lúc đó sẽ nhanh hơn gấp 10.000 lần, tức chỉ mất vài giây. Các pḥng thí nghiệm hiện đang thí nghiệm loại transistor "đạn đạo", có số lần đóng mở là 1/1.000.000.000.000.000 của một giây, hanh hơn khoảng 10 triệu lần so với loại transistor đang dùng trong bộ vi sử lư hiện nay. Vấn đề đặt ra là giảm kích cỡ nhóm mạch chip và ḍng điện xuống sao cho các electron chuyển động không đụng phải bất cứ vật ǵ, kể cả việc chúng va chạm lẫn nhau. Giai đoạn sắp tới sẽ là giai đoạn "transistor đơn electron", trong đó một electron đơn đại diện cho một bit đơn thông tin, đây sẽ là mục đích cuối cùng trong việc tạo ra máy điện toán tiêu thụ ít năng lượng, ít ra là theo sự hiểu biết hiện nay về môn vật lư học của chúng tôi. Để có thể tận dụng được lợi thế tốc độ siêu cao đó ở cấp phân tử, máy điện toán rồi đây sẽ có kích cỡ rất nhỏ, thậm chí ở dạng vi mô. Chúng tôi đă biết nền tảng khoa học có thể giúp chúng tôi thiết kế các máy điện toán cực nhanh này. Điều chúng tôi cần hiện nay là một cuộc đột phá về kỹ thuật, mà những đột phá như thế thường đến rất nhanh. Đến lúc chúng ta có được tốc độ đó th́ việc lưu trữ các bit nói trên sẽ không c̣n là vấn đề nữa. Vào mùa xuân năm 1983, hăng IBM đă cho ra đời loại máy PC/XT, chiếc máy điton cá nhân đầu tiên của hăng có thiết kế một đĩa cứng bên trong. Đĩa cứng đó có chức năng như là một phương tiện lưu trữ bên trong và chứa được 10 megabytes, hoặc c̣n gọi là "meg" thông tin, tức khoảng 10 triệu kư tự hay 80 triệu bit. Những khách hàng nào muốn nâng cấp máy hiện có của họ lên 10 meg đều có thể được miễn là có tiền. Hăng IBM chào giá là 3.000 Mỹ kim một bộ, có kèm nguồn cấp điện riêng, để mở rộng bộ nhớ. Như vậy có nghĩa là phải tốn 300 Mỹ kim cho mỗi megabyte. Ngày nay, nhờ vào sự phát triển theo cấp số nhân miêu tả trong quy luật Moore mà các đĩa cứng của máy điện toán cá nhân có thể chứa tới 1,2 gigabyte-tức 1,2 tỷ kư tự thông tin - với giá là 250 Mỹ kim. Tức chỉ tốn 21 xu cho một megabyte! (trong tháng 9 năm 1996 c̣n khoảng 170 Mỹ kim) chúng ta mong đơi một sự cải thiện hết sức lư thú được gọi là bộ nhớ toàn kư (holographic memory), nó có thể chứa 10 kư tự thông tin trong một thể tích nhỏ hơn 1 inch vuông. Với khả năng như vậy, bộ nhớ toàn kư, với kích cỡ chỉ bằng nắm tay của bạn, có thể chứa nội dung của cả một thư viện Quốc hội Mỹ. Do kỹ nghệ thông tin liên lạc đi vào dạng số, cũng như sự cải thiện hàm số mũ, đă làm cho máy điện toán sách tay, trị giá 2.000 Mỹ kim, trở lên mạnh hơn nhiều so với máy điện toán chính của hăng IBM hai mươi năm trước. Vào một thời điểm nào đó trong tương lai không xa, một sợi cáp đơn đi vào từng nhà sẽ có khả năng cung cấp tất cả dữ liệu số cho cả hộ gia đ́nh. Sợi cáp đó có thể là cáp quang, loại hiện đang được sử dụng trong điện thoại đường dài, hay là cáp đồng trục, loại hiện đang được sử dụng làm cáp truyền h́nh. Nếu các bit được nhận biết như là giọng nói, chuông điện thoại sẽ reo;nếu h́nh ảnh video, nó sẽ xuất hiện trên màn h́nh của máy thu h́nh; nếu đó là dịch vụ thông tin trực tuyến, chúng sẽ xuất hiện văn bản, và h́nh ảnh trên màn h́nh máy điện toán. Sợi cáp đơn đưa mạng lưới vào từng gia đ́nh kia sẽ nhất định chuyển tải không chỉ các cuộc nói chuyện điện thoại, phim ảnh,tin tức thời sự. Nhưng chúng ta cũng không thể nào h́nh dung xa lộ thông tin, trong hai mươi năm tới, sẽ chuyển tải những ǵ tốt hơn cách mà mọi người sống ở thời đại đồ đá, sử dụng những công cụ thô sơ, có thể h́nh dung các cánh cửa ra vào nhà thờ Ghiberti ở Florence được. Chỉ khi nào xa lộ đó đến th́ chúng ta mới có thể hiểu hết mọi khả năng của nó. Tuy nhiên, kinh nghiện về những thành tựu dạng số của hai mươi năm qua cho phép chúng ta hiểu được một số các nguyên lư và những khả năng chủ yếu của tương lai. | ||
|
Lời tựa | Chương 1 | Chương 2 | Chương 3 | Chương 4 | Chương 5 | Chương 6 | Chương 7 | Chương 8 | Chương 9 | Chương 10 | Chương 11 | Lời kết |
||
|
Tài liệu này lấy từ Hanoi Software JSC | ||